Sơ đồ trang
DU LỊCH HẢI DƯƠNG
Giới thiệu về Hải Dương
Giới thiệu về Trung tâm
Các điểm đến du lịch Hải Dương
Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc
Thành phố Hải Dương
Thị xã Chí Linh
Cẩm Giàng
Ninh Giang
Kinh Môn
Nam Sách
Thanh Hà
Gia Lộc
Thanh Miện
Bình Giang
Tin tức - Sự kiện
Thông tin hữu ích
Ẩm thực
Làng nghề
Lễ hội
Danh nhân xứ Đông
Nghệ thuật dân gian
Văn bản QPPL
Thủ tục hành chính
Thống kê du lịch

THỐNG KÊ TRUY CẬP
435,072

TIỆN ÍCH
Thời tiết Tỷ giá

BẢN ĐỒ DU LỊCH HD

THƯ VIỆN ẢNH

VIDEO DU LỊCH HD
Dấu ấn Lễ hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc
Về Hải Dương thăm đền thờ Chu Văn An - nơi tôn vinh đạo học
Việt Nam Vẻ Đẹp Bất Tận
Di Sản Văn Hóa "Huyền Tích Đền Kiếp Bạc"

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Đền Xưa và sự nghiệp Đại danh y Tuệ tĩnh
Đền Xưa, nơi thờ đại danh y Tuệ Tĩnh được xây dựng tại Nghĩa Lư trang, quê hương của ông. Nghĩa Lư trang có tên nôm là làng Xưa, thời Trần thuộc Hồng Lộ, thời Lê Trung Hưng, Nghĩa Lư trở thành một xã, có tên là Nghĩa Phú, thuộc tổng Văn Thai, nay là một thôn của xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng.

I. Ngôi đền linh thiêng

Đền Xưa, nơi thờ đại danh y Tuệ Tĩnh được xây dựng tại Nghĩa Lư trang, quê hương của ông. Nghĩa Lư trang có tên nôm là làng Xưa, thời Trần thuộc Hồng Lộ, thời Lê Trung Hưng, Nghĩa Lư trở thành một xã, có tên là Nghĩa Phú, thuộc tổng Văn Thai, nay là một thôn của xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng.

 

Nghĩa Phú là quê hương của nhiều tiến sĩ như: Phạm Từ Hư, Phạm Văn Hoán, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Danh Nho... Đây cũng là quê hương của nhiều danh y, nhiều dòng họ có nghề y dược gia truyền về từng môn, loại thuốc. Điển hình có chi họ 12 đời chuyên chữa bệnh bằng thuốc nam, thuốc bắc, đến nay vẵn được kế thừa.

Đền thờ Tuệ Tĩnh khởi dựng từ năm nào, nay chưa xác định được. Căn cứ di vật kiến trúc hiện còn như đẳng đá, tảng đá hoa sen, các bức chạm gỗ, có thể xác định vào thế kỷ 17 đã có một ngôi đền kiên cố, chạm khắc tinh tế. Di tích hiện còn kiến trúc hình chữ Nhị. Hậu cung ba gian, bít đốc, dài 9,7m, rộng 7,5m. Bàn thờ còn từng mảng điêu khắc gỗ kênh bong hình rồng của thế kỷ 17 – 18. Trên bàn thờ có tượng Tuệ Tĩnh (phụ chế từ chùa Giám). Tiền tế 5 gian (15,6x6,5m) trùng tu năm 1937. Giữa tiền tế và hậu cung có một sân lọng hẹp, giữa đạt một hòn non bộ.

Hiện tại di tích còn khoảng 50 cổ vật có giá trị: Chuông đồng đúc năm Tự Đức thứ 8 (1855), sắc phong cho Tuệ Tĩnh và các thời Thiệu Trị, Tự Đức, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại. Đại tự Tế thế dân trạch, Bảo Đại Mậu Dần (1938), Xuân đài thọ vực, Tự Đức Kỷ Mậu (1849)....

Phía tây bắc đền có một ngôi đình lớn kiểu tiền nhất hậu đinh. Đền Xưa, đền Bia, chùa Giám là ba di tích quan hệ mật thiết đến Tuệ Tĩnh đã được xếp hạng bảo tồn.

Hội làng hằng năm được tổ chức vào ngày 15/2, đây cũng là ngày kỉ niệm ngày mất Đại danh y Tuệ Tĩnh. Trong những ngày hội, thường có đoàn đồng hương từ An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng về dự. Dân An Lư nguyên là dân làng Nghĩa Lư di cư xống đây lâu đời. Tại đây cũng có đền thờ Tuệ Tĩnh từ những thế kỷ trước, đã được trùng tu tôn tạo.

 

 II. Đại danh y Tuệ Tĩnh

Tuệ Tĩnh tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, pháp hiệu là Tuệ Tĩnh, biệt hiệu là Hồng Nghĩa, quê tại làng nghĩa Phú, tổng Văn Thai, nay thuộc xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng. Theo các nguồn tài liệu lịch sử và truyền thuyết tại địa phương, thì Tuệ Tĩnh sinh vào khoảng năm 1330, mồ côi cha mẹ từ năm 6 tuổi, được sư thầy Hải Triều ở chùa Giám nuôi và cho đi học.

Tuệ Tĩnh thông minh và hiếu học, năm 22 tuổi thi đậu Thái học sinh (tiến sĩ) vào thời Triệu Phong (1341-1375). Với niềm tự hào dân tộc chân chính và tình yêu con người tha thiết, ông mang hết thì giờ và năng lực vào sự nghiệp nghiên cứu y dược dân tộc, mong dùng tài năng y dược để cứu người. Ông nói: “Muốn giúp dân sinh trước tìm vị thuốc”. Với tinh thần đó, Tuệ Tĩnh không làm quan mà đi tu, hy vọng tập trung thì giờ vào nghiên cứu y dược, tìm những phương thuộc chữa bệnh cho dân phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Tài năng y dược và đức độ của ông nổi tiếng trong và ngoài nước. Năm 55 tuổi, Tuệ Tĩnh phải sung vào đoàn sứ bộ đi phương Bắc. Ở nước ngoài, ông chữa thành công nhiều căn bệnh hiểm nghèo, được phong là Đại y tôn thiền sư. Ở đền Xưa thờ Tuệ Tĩnh còn một câu đối nói về sự kiện này:

Danh khôi nhị giáp tiêu Trần giám

Sứ mệnh thập toàn tinh Bắc Y.

(Đỗ đầu giáp hai, nêu gương sáng thời Trần

Hoàn thành sứ mệnh, chữa bệnh lừng danh phương bắc)

Ông mất tại Nam Giang Trung Quốc. Là một nhà sư, lại mất tại nước ngoài, trải bao thế kỷ binh lửa chiến tranh tác phẩm của ông bị thất lạc và sao chép nhiều lần, vì vậy việc nghiên cúu về thân thế và sự nghiệp của ông có nhiều khó khăn. Song với những tác phẩm còn lại cũng đủ xác nhận sự nghiệp y dược của ông là to lớn và giữ vai trò đặt nền móng cho y dược dân tộc ở những thế kỷ sau.

Hơn 30 năm hoạt động khoa học. Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa , biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông là người nắm vững y lý đông y và có công đầu trong việc sưu tập nghiên cứu dược tính và chẩn trị bằng thuốc nam. Ông đã huấn luyện các tăng ni làm thuốc và chữa bệnh, phổ biến cho mọi người những bài thuốc thông thường để có thể tự kiếm và điều trị, tiêu biểu là 2 bộ: Nam dược thần hiệu (10 quyển) và Hồng nghĩa giác tự y thư (2 quyển).

Nắm vững tri thức y học đương thời, thừa kế thành tựu y học trong và ngoài nước, Tuệ Tĩnh đã phát hiện nhiều vị thuốc và nâng cao nền y học cổ truyền. Ông nói “thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt” và “Sách trời đã định cõi Nam ban, thổ sản cũng khác nhiều phương Bắc”. Những câu nói đó biểu hiện sự nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữ con người  với sinh cảnh và ý thức độc lập tự chủ cao cả. Ông phê phán kịch liệt tư tưởng mê tín dị đoan của những người chỉ tin vào bùa chú mà không tin vào thuốc chữa bệnh và đưa ra nhiều biện pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, xông, đắp thuốc...

Tuệ Tĩnh không dừng lại ở một thầy thuốc chữa bệnh thụ động, ông đã đi sâu nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Ông nhận thức được mối quan hệ biện chứng giữ tư tưởng, tâm lý và bệnh , thấy được tác dụng của việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông khuyên người ta sống trung chính để tránh những suy nghĩ phiền muộn, coi đó là một cách phòng bệnh. Ông nhắc nhở mọi người một phương pháp dưỡng sinh cực kỳ quý báu.

“Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần

Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”.

Ngoài y dược phục vụ con người, Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc, phục vụ sản xuất, đặt cơ sở cho ngành thú y dân tộc.

Về dược liệu, ông sắp xếp và hệ thống theo nhận thức của mình, không phụ thuộc vào cách sắp xếp của những sách nước ngoài đương thời, như xếp cây cỏ nên trước tiên mà không đặt thủy, hỏa, thổ, kim, thạch lên đầu như Trung dược.

Tuệ Tĩnh có cống hiến to lớn về mặt lý luận và thực tiễn cho nền y dược dân tộc. Sự nghiệp của ông không ngừng được thừa kế và phát huy. Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (người làng Liêu Xá, Mỹ Văn, Hưng Yên) là người kế tục xứng đáng sự nghiệp của ông ở thế kỷ 18.

Sau cách mạng tháng tám, y dược dân tộc được coi trọng và có điều kiện phát triển. Hiện nay hầu hết các bệnh viện trạm xá trên đất nước ta đều có vườn dược liệu và có bộ phận chữa bệnh bằng thuốc nam kết hợp với y dược hiện đại, thu kết quả cao. Tác dụng và nhu cầu về thuốc nam ngày càng lớn. Cơ sở và lực lượng trồng hái, thu lượm và chế biến dược liệu ngày càng đông đảo. Để đáp ứng nhu cầu điều trị bằng y dựơc dân tộc. Bộ y tế đã mở trường Cao Đẳng y dược dân tộc Tuệ Tĩnh chuyên đào tạo các thầy thuốc chế biến dược liệu và điều trị bằng thuốc nam.

In trang Quay lại Lên trên
Các tin mới hơn
- Khu di tích Quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc(19/12/2016)
- Chùa Giám (Nghiêm Quang Tự)(24/07/2015)
- Đền Bia(24/07/2015)
- Chùa Thanh Mai(24/07/2015)
- Đền Cao An Lạc(24/07/2015)
Các tin cũ hơn
- Đình Mộ Trạch (Làng Mộ Trạch)(24/07/2015)
- Chương trình xúc tiến Du lịch Hải Dương giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến năm 2020(22/07/2015)
LIÊN KẾT - QUẢNG CÁO