Sơ đồ trang
DU LỊCH HẢI DƯƠNG
Giới thiệu về Hải Dương
Giới thiệu về Trung tâm
Các điểm đến du lịch Hải Dương
Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc
Thành phố Hải Dương
Thị xã Chí Linh
Cẩm Giàng
Ninh Giang
Kinh Môn
Nam Sách
Thanh Hà
Gia Lộc
Thanh Miện
Bình Giang
Tin tức - Sự kiện
Thông tin hữu ích
Ẩm thực
Làng nghề
Lễ hội
Danh nhân xứ Đông
Nghệ thuật dân gian
Văn bản QPPL
Thủ tục hành chính
Thống kê du lịch

THỐNG KÊ TRUY CẬP
446,215

TIỆN ÍCH
Thời tiết Tỷ giá

BẢN ĐỒ DU LỊCH HD

THƯ VIỆN ẢNH

VIDEO DU LỊCH HD
Dấu ấn Lễ hội mùa Thu Côn Sơn - Kiếp Bạc
Về Hải Dương thăm đền thờ Chu Văn An - nơi tôn vinh đạo học
Việt Nam Vẻ Đẹp Bất Tận
Di Sản Văn Hóa "Huyền Tích Đền Kiếp Bạc"

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Đình Mộ Trạch (Làng Mộ Trạch)
Đình Mộ Trạch thuộc làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang; được xây dựng khoảng thế kỷ 16 ở phía tây khu dân cư.

I. Lịch sử xây dựng, trùng tu

 

Đình Mộ Trạch thuộc làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang; được xây dựng khoảng thế kỷ 16 ở phía tây khu dân cư. Theo Bản đinh bi (văn khắc Hán Nôm do tiến sĩ Vũ Duy Đoán soạn năm Cảnh Trị 4 (1666)), khoảng đầu thế kỷ 17, đình được chuyển từ Tây khu về vị trí hiện nay. Do đình bị hư hỏng từ lâu, năm Đinh Sửu (1637) đình được trùng tu, gồm 3 gian, 2 chái bằng gỗ lim, lợp ngói. Đình thời này còn nhỏ, nên hằng năm khi mở hội phải dựng rạp lợp bằng cỏ tươi.

Năm Đinh Sửu, niên hiệu là Chính Hòa (1637) dân làng tái tạo đình lớn hơn. Đình có bệ thờ tổ tiên các dòng họ của làng. Lúc đầu có 6 giáp, sau chia thành 12 giáp. Mỗi giáp là một họ nhỏ hay một chi của một họ lớn.

Khoảng năm Canh Thân – Tân Dậu (1740-1741), sau khởi nghĩa của Vũ Trác Oánh, đình bị đốt phá. Năm Đinh Sửu (1757) bà Nhữ Thị Nhuận, chính thất của cử nhân Vũ Phương Đậu bỏ 3000 quan tiền để làm lại đình mới. Đình xây kiểu chữ Công. Tiền tế 5 gian, một gian ống muống. Nối với hậu cung 3 gian chồng diêm. Mỗi bên hậu cũng nối tiếp ba gian để thờ tổ tiên các dòng họ và những người hầu thần. hai giải vũ áp sát tường bao, song song với ống muống. tương tự như hành lang chùa.

Năm 1929-1931, đình được trùng tu những vẫn giữ nguyên dạng kiến trúc của năm 1757. Đình hiện còn là kiến trúc của thời kỳ này, có diện tích 242m2. Để chống xuống cấp, năm 1998, đình lại tiếp tục được trùng tu.

 

II. Danh nhân Vũ Hồn

Đình Mộ Trạch gắn liền với danh nhân Vũ Hồn, ông là Thành hoàng được thờ tại đây.

Thần phả và gia phả của họ Vũ cho biết: Vũ Công Huy làm quan đời nhà Đường (TK VIII) vợ là Lưu Thị Phương, quê huyện Long Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến. Vợ chồng đã cao tuổi những chưa có con. Vũ Công xin về chí sĩ. Nhân chuyến du ngoại ở nước ta, ông đến trang Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, thấy nơi đất tốt, người thuần hậu bèn lưu lại. Tại đây, Vũ Công kết duyên cùng thôn nữ Nguyễn Thị Đức, người bản trang. Ông lại tìm được Đống Già hay còn gọi là Đống Rờm ở phía nam Mạn Nhuế là huyện đất tốt nên đã mang di cốt thân phụ an táng tạo đây. Ngày 8 tháng Giêng năm Giáp Thân (804) bà Đức sinh hạ thần nhi đặt tên là Vũ Hồn.

Vũ Hồn là người thông minh xuất chúng, chăm chỉ học hành. 17 tuổi, ông dự thi đình khoa Canh Tý (820) trúng tuyển, được nêu bảng vàng, thăng lên Đô đài ngự sử. Năm Ất Thìn Bảo Lịch nguyên niên (825) Đường Kính Tôn thăng Thứ sử Giao Châu. Năm Hộ Sương thứ 10 (841) thăng An Nam đô hộ phủ. Trong những năm làm quan An Nam, Vũ Hồn thường về bộ Dương Tuyền thăm phần mộ tổ tiên ở Mạn Nhuế. Có lần ông về Đường An, đến làng Nạp Trạch. Thấy ở phía tây làng này có khu đất tốt, liền cắm đất ấy lập ấp Khả Mộ cư trú lâu dài. Ngày 3 tháng Chạp năm Quý Dậu (853) Vũ Hồn qua đời. Con cháu an táng ở cánh đồng phía bắc làng, sau gọi là xứ Mả Thần. Mộ Vũ Hồn nay vẫn còn.

III. Đặc sắc hội làng

Sau khi Vũ Hồn qua đời được tôn làm Thành hoàng, thờ tại đình làng và miếu. Để tưởng nhớ người khai hoang, lập ấp, xây dựng nên làng xã, hằng năm đến ngày 8 tháng Giêng, ngày sinh của Vũ Công, dân làng vào đám.

Ngày hóa của Thành hoàng chỉ làm lễ tế các ở đình và miếu. Khi vào đám, làng phải chọn gạo thổi xôi rất kỹ và chọn người viết và đọc văn tế. Thông lệ văn tế ở đây rất dài, nếu không đủ năng lực và sức khỏe thì không thể viết và đọc trọn vẹn. Văn tế ngày vào đám, ngoài chức tước và mỹ tự mà Thành hoàng được phong còn phải viết tiếp tên người, thầy dạy học và cha mẹ người đỗ đại khoa, các vị tư văn góp tiền tu sửa hoặc xây dựng đình miếu. Tất cả đã được ghi trong “Xuân diện tự điển” của làng, tổng cộng 372 người. Mỗi người ngoài tên họ còn có học vị, quan tước dài dòng. Đây là điều ít thấy ở các làng xã. Người viết văn tế là ông Điền văn, như một chức dịch trong làng.

Mộ Trạch là một làng có truyền thống hiếu học. Trong hai triều đại: Trần và Lê, có 37 tiến sĩ, chưa kể cử nhân, tú tài, đứng đầu cả nước về số tiến sĩ tính theo đơn vị làng xã, xứng đáng là Làng tiến sĩ. Đầu thế kỷ này Mộ Trạch  chỉ là một thôn nhỏ, dân số xấp xỉ 1000 người. Không chỉ là những người đỗ đạt cao mới làm nên sự nghiệp mà ở đây nhiều người bằng cấp không cao nhưng công danh nổi tiếng, được lịch sử ghi nhận. Mộ Trạch có hàng trăm người làm quan triều và ở các trấn lộ. Chỉ riêng gia đình Vũ Quốc Sỉ - Vũ Thị Thứ, có 5 con trai, nhà nghèo nhưng đều thành đạt, có danh vọng trong triều đình ở thế kỷ 17. Đó là Vũ Tự Khoái, Vũ Duy Trí, Vũ Bạt Tụy, Vũ Phương Trưởng, Vũ Cầu Hối.

Là một làng văn hiến nên mọi việc của làng xã đều có quy củ và được đưa vào hương ước từ năm 1666. Đây là một hương ước ra đời sớm và có giá trị khoa học.

Mọi hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội đều diễn ra tại đình. Những câu đối, đại tự ở đây đã phản ánh một phần lịch sử, tư tưởng và trình độ học vấn của tầng lớp trí thức của làng xã. Đồng thời cũng là trí thức của đất nước đương thời.

Bia trùng tu đình năm Cảnh Hưng 35 (1774) đoạn đầu ghi: “ Mộ Trạch là làng có tiếng ở Hồng Châu, có đình cao đẹp. Qua nhiều năm loạn lạc bị đốt thành tro bụi.

Cách chàu trên 100 mét về phía nam là phía nam là giếng làng và chùa Điền Phúc. Chùa còn nhiều tượng phật và bia ký của thế kỷ 17-18.

Cơ sở vật chất của thiết chế văn hóa cổ của một làng quê văn hiến tuy đã phôi phai nhưng không gian văn hóa và di tích vãn còn nhớ, gợi nhớ về một thời oanh liệt. Đường làng ngõ xóm vẫn dáng vẻ xưa. Những đường vỉa gạch nhỏ hẹp, lô xô giữa hai hàng giặng duối già, dẫn đến những ngôi nhà thờ họ thấp bé, trước sân thường có vài tấm bia cổ cô đơn như những chí sĩ già nơi thôn dã.

Đình Mộ Trạch đã được xếp hạng bảo tồn từ năm 1991. Nhưng làng Mộ Trạch cũng xứng đáng được bảo tồn, vì đây là một trong những làng văn hiến, có trên một ngàn năm lịch sử mà nay vẫn còn giữ được nhiều nét cổ xưa.

In trang Quay lại Lên trên
Các tin mới hơn
- Khu di tích Quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc(19/12/2016)
- Chùa Giám (Nghiêm Quang Tự)(24/07/2015)
- Đền Bia(24/07/2015)
- Chùa Thanh Mai(24/07/2015)
- Đền Cao An Lạc(24/07/2015)
Các tin cũ hơn
- Chương trình xúc tiến Du lịch Hải Dương giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến năm 2020(22/07/2015)
LIÊN KẾT - QUẢNG CÁO